Skip to main content
NIHPA Author Manuscripts logoLink to NIHPA Author Manuscripts
. Author manuscript; available in PMC: 2018 Jan 22.
Published in final edited form as: Tap Chi Nghien Y Hoc. 2017 Apr;106(1):179–185. [Article in Vietnamese]

Trầm Cảm Ở Thành Viên Gia Đình Của Nam Tiêm Chích Ma Túy Nhiễm HIV Tại Hà Nội Năm 2016

Depression Among Caregivers of HIV - Positive Injection Drug Users in Hanoi, 2016

Đào Thị Diệu Thúy 1, Trần Minh Hoàng 2, Đinh Thanh Thúy 2, Phạm Phương Mai 3, Lê Minh Giang 2,3
PMCID: PMC5777860  NIHMSID: NIHMS931388  PMID: 29367942

Summary

Most of people who inject drugs in Vietnam live in their family homes and these living have formed the burden on caring. This study aimed at exploring the characteristic of depression of caregivers of HIV - positive injection drug users and relative factors. Cross - sectional assessment data were gathered from 138 caregivers recruited from Hanoi city. About 20% of the study sample had a depressed condition from mild to extremely severe. Caregiver burden and family function were significantly associated with depression of caregivers. This study addressed the needs of intervention to improve family function and to decrease caregiver burden aimed at raising mental health of caregivers of HIV - positive injection drug users.

I. Đặt Vấn Đề

Ở Việt Nam, lưu hành sử dụng ma túy có lịch sử lâu dài [1]. Đến năm 2013, cả nước có hơn 180 nghìn người nghiện ma túy, tăng hơn 3 lần so với năm 1994 với mức tăng xấp xỉ 6 nghìn người nghiện mỗi năm [2]. Tiêm chích ma túy là nguyên nhân chính gây bùng phát dịch HIV tại Việt Nam [3]. Kết quả giám sát trọng điểm HIV năm 2015 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma túy vẫn là cao nhất trong các nhóm nguy cơ cao [4].

Nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng nghiện chất là một vấn đề của gia đình do đó mối quan tâm được mở rộng sang gia đình người sử dụng nghiện chất. Một nghiên cứu tại Nhật Bản cho thấy quan hệ trong gia đình có liên quan chặt chẽ tới khả năng cai nghiện của người sử dụng ma túy [5]. Hỗ trợ tinh thần từ gia đình cũng tác động tích cực đến sự tuân thủ điều trị HIV ở những người tiêm chích ma túy nhiễm HIV [6]. Một số đặc điểm của người chăm sóc có mối liên quan với khả năng kiểm soát tải lượng virus ở bệnh nhân HIV/AIDS có tiêm chích ma túy [7]. Các nghiên cứu cũng ghi nhận mức độ kỳ thị và trầm cảm ở người tiêm chích ma túy có liên quan tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của thành viên gia đình [8].

Trong bối cảnh Việt Nam, gia đình có vai trò quan trọng đối với người tiêm chích ma túy và người nhiễm HIV [9]. Nghiên cứu cho thấy khoảng 60 - 80% người tiêm chích ma túy nhiễm HIV báo cáo họ đang sống cùng bố mẹ hoặc bạn đời [10; 11]. Trong gia đình có người nhiễm HIV làm tăng nguy cơ trầm cảm ở những người chăm sóc. Việc sử dụng ma túy ở người bệnh HIV/AIDS cũng được chứng minh là yếu tố nguy cơ của hội chứng trầm cảm ở thành viên gia đình [12]. Tuy nhiên, vẫn còn ít nghiên cứu trong nước về sức khỏe tâm thần nói chung và trầm cảm nói riêng trong nhóm thành viên gia đình của nam tiêm chích ma túy nhiễm HIV. Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu: mô tả đặc điểm trầm cảm ở thành viên gia đình của nam tiêm chích ma túy nhiễm HIV và các yếu tố liên quan.

II. Đối Tượng Và Phương Pháp

1. Đối tượng

Thành viên gia đình là người chăm sóc chính của nam tiêm chích ma túy nhiễm HIV tại Hà Nội.

n=Z(1−α/2)2p⋅(1−p)(ɛ⋅p)2=1,962

Trong đó, p = 0,479 là tỷ lệ trầm cảm ở thành viên gia đình nam tiêm chích ma túy nhiễm HIV lấy từ một nghiên cứu tại Trung Quốc năm 2013 [13]; sai lệch tương đối giữa tham số mẫu và tham số quần thể chọn ε = 0,2; mức ý nghĩa thống kê chọn α = 0,05 nên Z(1-α/2) = 1,96. Tính ra cỡ mẫu là 105 người. Dự phòng từ chối tham gia nghiên cứu là 15%, vậy cỡ mẫu cần thiết là 120 người. Thực tế, nghiên cứu tuyển chọn được 138 người.

Công cụ và phương pháp thu thập thông tin

Thu thập thông tin về đặc điểm nhân khẩu học của nhóm đối tượng.

Đo lường trầm cảm sử dụng cấu phần Trầm cảm trong thang đo rút gọn Trầm cảm – Lo âu – Stress (DASS - 21) [14]. Công cụ gồm 7 câu hỏi mô tả dấu hiệu/ cảm xúc của người trả lời trong vòng 1 tuần trước thời điểm phỏng vấn. Mỗi câu có 4 phương án lựa chọn tương ứng 4 mức độ điểm từ “0 – Không đúng chút nào” đến “3 – Hoàn toàn đúng”, tổng

Tiêu chí lựa chọn

Tuổi từ 18 trở lên, có hộ khẩu ở Hà Nội, có khả năng hiểu bản thỏa thuận nghiên cứu và đồng ý tham gia.

2. Phương pháp

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, thu thập số liệu bằng phỏng vấn trực tiếp đối tượng trong thời gian từ tháng 1/2016 đến tháng 10/2016.

Cỡ mẫu

Cỡ mẫu tính theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể:

0,479⋅(1−0,479)(0,2.0,479)2=105

điểm từ 0 – 21 điểm, chia thành 5 mức độ trầm cảm từ “Rất nhẹ” đến “Rất nặng”.

Đánh giá mối quan hệ gia đình sử dụng Thang đo quan hệ gia đình (Family Function Scale) [15]. Công cụ gồm 15 câu, chia đều trong 3 cấu phần: (1) Sự đoàn kết, (2) Sự mâu thuẫn, (3) Mối quan hệ xã hội của gia đình. Mỗi câu có 4 phương án tương ứng 4 mức độ điểm từ “1 – Không đúng chút nào” đến “4 – Rất đúng”. Mối quan hệ gia đình được đánh giá bằng tổng điểm cấu phần “Sự đoàn kết” và “Mối quan hệ xã hội”, sau đó trừ đi điểm cấu phần “Sự mâu thuẫn”. Điểm càng cao thể hiện mối quan hệ trong gia đình càng tích cực.

Đo lường gánh nặng chăm sóc sử dụng Bộ câu hỏi sàng lọc gánh nặng chăm sóc phát triển từ Thang đo gánh nặng chăm sóc (α = 0,82). Công cụ gồm 19 câu hỏi, chia thành 3 cấu phần: (1) Gánh nặng tài chính, (2) Gánh nặng sức khỏe, (3) Gánh nặng cảm xúc. Mỗi câu có 5 phương án tương ứng 5 mức độ điểm từ “1 – Hoàn toàn không” đến “5 – Hoàn toàn đồng ý”. Gánh nặng chăm sóc được đánh giá bằng tổng điểm của cả ba cấu phần, điểm càng cao càng thể hiện mức độ của gánh nặng.

Phân tích số liệu

Dữ liệu được nhập bằng phần mềm Epi Info 7 và phân tích bằng phần mềm Stata 14. Sử dụng trung bình và tỷ lệ để mô tả các biến định lượng, định tính. Sử dụng t test hoặc Mann-Whitney để tìm sự khác biệt trung bình giữa hai nhóm; khi bình phương hoặc Fisher để tìm sự khác biệt tỷ lệ giữa hai nhóm. Sử dụng tương quan tuyến tính để tìm mối tương quan giữa từng cặp các biến liên tục: trầm cảm, mối quan hệ gia đình, gánh nặng chăm sóc. Hồi quy đa biến được sử dụng để xác định một số yếu tố liên quan đến trầm cảm.

3. Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của trường Đại học Y Hà Nội xem xét và phê duyệt (giấy chấp thuận số: 144/HĐĐĐĐHYHN) ngày 18/7/2014.

III. Kết Quả

1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Bảng 1 cho thấy tuổi trung bình của thành viên gia đình nam tiêm chích ma túy nhiễm HIV là 44,6 tuổi (±14,6). Hai nhóm tuổi chiếm đa số là nhóm từ 30 – 39 và trên 50 tuổi. Chỉ có 51,4% trong tổng số thành viên gia đình tham gia nghiên cứu có học vấn từ trung học phổ thông trở lên. Đa số nghề nghiệp không có thu nhập ổn định như làm nông, xe ôm, tự do.

Bảng 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu.

Đặc điểm Số lượng/ Trung bình %/ SD
Tuổi 44,6 14,6
≤ 29 17 12,3%
30 – 39 48 34,8%
40 – 49 25 18,1%
≥ 50 48 34,8%

Học vấn
Mù chữ/Tiểu học 16 11,6%
Trung học cơ sở 51 37%
Trung học phổ thông trở lên 71 51,4%

Nghề nghiệp
Ổn định (nhà nước, văn phòng,..) 8 5,8%
Ítổnđịnh (nông dân, tự do,…) 123 89,1%
Thất nghiệp 7 5,1%

Mối quan hệ gia đình (0 - 100) 43,2 16,4
Đoàn kết 65,7 12,6
Mâu thuẫn 37,4 11,5
Quan hệ xã hội 58,1 16,1

Gánh nặng chăm sóc (0 - 100) 50,2 14,7
Kinh tế 65,6 18,6
Sức khỏe 45,7 17,3
Cảm xúc 39,4 17,8

SD (Standard Deviation): Độ lệch chuẩn.

Điểm trung bình đánh giá mối quan hệ gia đình thấp hơn mức trung bình (43,2 điểm trên thang 100 điểm). Gánh nặng chăm sóc có giá trị trung bình 50,2 trên thang điểm 100, tuy nhiên cấu phần gánh nặng về kinh tế chiếm ưu thế hơn so với hai cấu phần gánh nặng sức khỏe và gánh nặng cảm xúc.

2. Đặc điểm trầm cảm của đối tượng nghiên cứu

Bảng 2 cho thấy điểm trung bình trầm cảm của thành viên gia đình không cao (2,7 điểm). Tuy nhiên có 19,6% trong tổng số người tham gia nghiên cứu có dấu hiệu trầm cảm từ nhẹ đến rất nặng. 13,8% có dấu hiệu trầm cảm vừa, nặng hoặc rất nặng.

Bảng 2. Tỷ lệ trầm cảm của thành viên gia đình nam tiêm chích ma túy nhiễm HIV.

X̄ ± SD Tỷ lệ trầm cảm theo các mức độ
Bình thường Nhẹ Vừa Nặng Rất nặng
Trầm cảm 2,7 ± 3,7 111(80,4%) 8 (5,8%) 12(8,7%) 4(2,9%) 3 (2,2%)

TCMT: Tiêm chích ma túy

3. Một số yếu tố liên quan trầm cảm của đối tượng nghiên cứu

Mối quan hệ gia đình có tương quan nghịch với trầm cảm của thành viên gia đình nam tiêm chích ma túy nhiễm HIV (r = -0,337; p < 0,001). Gánh nặng chăm sóc có tương quan thuận với trầm cảm ở thành viên gia đình (r = 0,586; p < 0,001). Bên cạnh đó gánh nặng chăm sóc cũng có tương quan nghịch với mối quan hệ trong gia đình (r = -0,384; p < 0,001).

Kết quả hồi quy tuyến tính đa biến được trình bày ở bảng 3. Mô hình có ý nghĩa thống kê với p < 0,001, giải thích cho 36,4% sự biến thiên của trầm cảm ở thành viên gia đình. Kết quả chỉ ra mối quan hệ gia đình và gánh nặng chăm sóc có mối liên quan với trầm cảm (β = ;0,029- p < 0,05 và β = 0,137; p < 0,001).

Bảng 3. Tương quan tuyến tính giữa các biến định lượng nghiên cứu.

Trầm cảm Mối quan hệ gia đình Gánh nặng chăm sóc
Trầm cảm 1
Mối quan hệ gia đình -0,337* 1
Gánh nặng chăm sóc 0,586* -0,384* 1
*

p < 0,001

IV. Bàn Luận

Nghiên cứu đã tiến hành trên 138 người tham gia là thành viên gia đình có vai trò hỗ trợ chính cho nam tiêm chích ma túy nhiễm HIV tại Hà Nội.

Tương đồng với các nghiên cứu khác, tuổi trung bình của thành viên gia đình nam tiêm chích ma túy nhiễm HIV đều lớn hơn 40 [12; 13]. Học vấn từ trung học phổ thông trở lên và tỷ lệ có nghề nghiệp cao hơn nghiên cứu khác [13]. Gánh nặng chăm sóc của thành viên gia đình ở mức trung bình (50,2 ± 14,7), điều này phù hợp với kết quả một nghiên cứu ở Phú Thọ năm 2013 [12]. Mối quan hệ gia đình dao động quanh mức trung bình (43,2 ± 16,4), cao hơn kết quả nghiên cứu khác [12].

Tỷ lệ thành viên gia đình có dấu hiệu trầm cảm ở mức từ nhẹ đến rất nặng là 19,6%, thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Claire năm 2013 [13]. Có sự khác nhau này là do nghiên cứu của Claire sử dụng thang đo trầm cảm và lo âu bệnh viện (HADS), thực hiện điều tra từ năm 2011, điều tra viên chỉ tiếp cận thành viên gia đình của những người tiêm chích ma túy nhiễm HIV đang điều trị tại một phòng khám điều trị HIV và phục hồi, các bệnh nhân HIV/AIDS này thường nặng hơn những người bệnh trong cộng đồng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy gánh nặng chăm sóc liên quan thuận chiều có ý nghĩa thống kê với trầm cảm ở thành viên gia đình. Điều này phù hợp với kết quả của các nghiên cứu trước đó chứng minh rằng gánh nặng chăm sóc làm tăng mức độ trầm cảm ở thành viên gia đình [12; 16]. Bên cạnh đó, gánh nặng chăm sóc cũng là yếu tố có tương quan với mối quan hệ trong gia đình (r= -0,384; p < 0,001), kết quả cũng tương đồng nghiên cứu khác [12].

Có sự liên quan giữa Đặc điểm mối quan hệ gia đình và khả năng trầm cảm ở thành viên gia đình. Mối quan hệ gia đình do thành viên gia đình báo cáo có mối liên quan ngược chiều với trầm cảm ở nhóm thành viên gia đình, chỉ ra rằng khi cảm thấy mối quan hệ gia đình càng tích cực thì khả năng trầm cảm ở thành viên gia đình cảm thấp. Các mối liên quan đều có ý nghĩa thống kê và phù hợp với nghiên cứu khác [5; 12].

Nghiên cứu cũng có một số hạn chế cần lưu ý. Thứ nhất, nghiên cứu tiến hành trên những đối tượng là thành viên gia đình của nam tiêm chích ma túy nhiễm HIV sinh sống và có hộ khẩu tại Hà Nội. Vì vậy, việc ngoại suy ra quần thể thành viên gia đình của nam tiêm chích ma túy nhiễm HIV cần được thận trọng. Thứ hai, thiết kế nghiên cứu cắt ngang nên không thể dùng để kết luận mối quan hệ nhân quả.

V. Kết Luận

Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ gặp dấu hiệu trầm cảm ở thành viên gia đình của nam tiêm chích ma túy nhiễm HIV cũng tương đối cao (xấp xỉ 20%). Mối quan hệ trong gia đình và gánh nặng chăm sóc có liên quan có ý nghĩa thống kê đến trầm cảm của thành viên gia đình. Nghiên cứu cho thấy cần có các biện pháp cải thiện mối quan hệ gia đình và giảm bớt gánh nặng chăm sóc nhằm giúp các gia đình có người sử dụng ma túy nhiễm HIV đối phó với vấn đề trầm cảm nói riêng và sức khỏe tâm thần nói chung cũng như nâng cao chất lượng chăm sóc người thân có nghiên chích ma túy.

Bảng 4. Yếu tố liên quan đến trầm cảm ở đố i tượng nghiên cứu.

Thành viên gia đ.nh
β (95%CI) p
Trầm cảma
Mối quan hệ gia đ.nh -0,029 (-0,056; -0,001) < 0,05
Gánh nặng chăm sóc 0,137 (0,095; 0,18) < 0,001
Thông số mô hình R2 = 36,4%; RMSE = 3 < 0,001
a

Hồi quy đa biến phương pháp OLS (ordinary least squares), chỉ tiêu VIF cho thấy hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình không nghiêm trọng, kiểm định White kiểm tra phương sai thay đổi sau đó dùng sai số chuẩn robust khắc phục, do vậy các hệ số ước lượng của mô hình vẫn có thể sử dụng.

*

RMSE: Root mean squared error; TCMT: Tiêm chích ma túy.

Acknowledgments

Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được thực hiện bởi Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo HIV/AIDS trường Đại học Y Hà Nội năm 2016. Tác giả xin cảm ơn sự hỗ trợ của Cục phòng chống HIV/AIDS, Bộ Y tế; các cán bộ phòng khám SHP, Trường Đại học Y Hà Nội; cùng 138 người đã tham gia vào nghiên cứu.

References

  • 1.Doan Trang Vu. Harm Reduction for Injecting Drug Users in Vietnam: A Situation Assessment, Report for Macfarlane Burnet Centre, Victorian Public Health Training Scheme. Hanoi, Vietnam: 2001. [Google Scholar]
  • 2.Bộ Lao Động - Thương Binh và Xã Hội. Đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm 2020. Hà Nội: 2014. [Google Scholar]
  • 3.FHI 360, Bộ Y tế. Đánh giá hiệu quả của chương trình thí điểm điều trị nghiện các chất thuốc phiện bằng Methadone 2014 [Google Scholar]
  • 4.Cục phòng chống HIV/AIDS. Báo cáo Công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2015 và các nhiệm vụ trọng tâm năm 2016 2016 [Google Scholar]
  • 5.Morita Nobuaki, Naruse Nobuya, et al. Mental health and emotional relationships of family members whose relatives have drug problems. Japanese Journal of Alcohol Studies & Drug Dependence. 2011;46(6):525–541. [PubMed] [Google Scholar]
  • 6.Mimiaga Matthew J, Safren Steven A, et al. We fear the police, and the police fear us: structural and individual barriers and facilitators to HIV medication adherence among injection drug users in Kiev, Ukraine. AIDS Care. 2010;22(11):1305–1313. doi: 10.1080/09540121003758515. [DOI] [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]
  • 7.Mitchell Marry M, Robinson Allysha C. Informal Caregiver Characteristics Associated with Viral Load Suppression Among Current or Former Injection Drug Users Living with HIV/AIDS. AIDS & Behavior. 2015;19(1):2117–2122. doi: 10.1007/s10461-015-1090-2. [DOI] [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]
  • 8.Yunfei Lv, Zhao Qun. Depression symptoms among caregivers of children in HIV-affected families in rural China. AIDS Care. 2010;22(6):669–676. doi: 10.1080/09540120903334633. [DOI] [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]
  • 9.Nguyen NTT, Rasch V, Bygbjerg IC, Mogensen HO. Pursuing Treatment and Moral Worth: HIV-Infected Women in a Northern Province of Vietnam Living With Antiretroviral Therapy. Journal of the Association of Nurses in AIDS Care. 2012;23(4):339–349. doi: 10.1016/j.jana.2011.06.006. [DOI] [PubMed] [Google Scholar]
  • 10.Tran BX, Ohinmaa A, Duong AT, Do NT, et al. Changes in drug use are associated with health-related quality of life improvements among methadone maintenance patients with HIV/AIDS. Quality of Life Research. 2011;21(4):613–623. doi: 10.1007/s11136-011-9963-y. [DOI] [PubMed] [Google Scholar]
  • 11.Go VF, Frangakis C, Nam LV, Sripaipan T, et al. Characteristics of High-Risk HIV-Positive IDUs in Vietnam: Implications for Future Interventions. Substance Use and Misure. 2011;46(4):381–389. doi: 10.3109/10826084.2010.505147. [DOI] [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]
  • 12.Li Li, Tuan Nguyen Anh, Flore Martin. Mental health and family relations among people who inject drugs and their family members in Vietnam. International Journal of Drug Policy. 2013;24:545–549. doi: 10.1016/j.drugpo.2013.06.007. [DOI] [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]
  • 13.Greene M Claire, Kershaw Trace. Mental Health and Social Support among HIV-positive injection drug users and their caregivers in China. AIDS & Behavior. 2013;17:1775–1784. doi: 10.1007/s10461-012-0396-6. [DOI] [PubMed] [Google Scholar]
  • 14.Lovibond PF, Lovibond SH. The structure of negative emotional states: Comparison of the Depression Anxiety Stress Scales (DASS) with the beck Depression and Anxiety inventories. Behaviour Research and Therapy. 1995;33(3):335–343. doi: 10.1016/0005-7967(94)00075-u. [DOI] [PubMed] [Google Scholar]
  • 15.Bloom Bernard L. A Factor Analysis of Self-Report Measures of Family Functioning. Fam Proc. 1985;24:225–239. doi: 10.1111/j.1545-5300.1985.00225.x. [DOI] [PubMed] [Google Scholar]
  • 16.Chauhan Ramesh C, Rai Sanjay K. Burden Among Caregivers of Children Living with Human Immunodeficiency Virus in North Indian. North American Journal of Medical Sciences. 2016;8(3):129–133. doi: 10.4103/1947-2714.179117. [DOI] [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

RESOURCES